Thứ năm, ngày 08/12/2022 - 17:24 (GMT+7)

| Lịch phát sóng
Dòng sự kiện

Cập nhật: 15:09, Thứ 7, 17/09/2022

Chia sẻ lên twitter Chia sẻ lên zing me Chia sẻ lên facebook In bài Gửi cho bạn bè

Thách thức chi phí Logistic lên xuất khẩu quý IV/2022

(ANTV) -Căng thẳng giá năng lượng có phần dịu bớt trong tháng qua nhưng chi phí logistics vẫn ở mức cao. Thực tế này khiến doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải đối mặt với sức ép giá cả. Trong đó, đáng lo ngại nhất tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh, giảm sức cạnh tranh của hàng Việt trên trường quốc tế.

 
Sau khi tháo gỡ giãn cách xã hội, giá trị xuất khẩu quý IV năm 2021 đã tăng 20-30%. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng rau củ, trái cây này chia sẻ, hiện nay chi phí logistics đang đè nặng bởi hàng nông sản không thể di chuyển bằng được biển mà chủ yếu bằng đường hàng không. Giá sản phẩm vi vậy cũng tăng nhẹ lên mức 10% so với thời điểm trước dịch Covid-19.
 
Trước khi xảy ra dịch Covid-19, cước vận chuyển tàu biển chỉ khoảng 1.000 - 3.000 USD/container, sau đó đã tăng lên 10.000 USD/container và hiện tại là 14.000 - 15.000 USD/container 40 feet. Hay giá cước vận chuyển hàng hóa từ châu Á đi Mỹ là khoảng 1 - 1,8 USD/kg, nhưng hiện nay đã lên mức 17 - 18 USD/kg.Theo tính toán của Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA), năm 2021 chi phí logistics vẫn chiếm khoảng 16,8% giá trị hàng hóa Việt Nam trong khi mức chi phí này trên thế giới hiện chỉ khoảng 10,6%.
 
Chi phí logistics của Việt Nam cao hơn nhiều so với mặt bằng chung trên thế giới khiến cho chi phí hàng hóa của Việt Nam tăng theo và làm mất lợi thế cạnh tranh so với các nước trong khu vực châu Á. Bộ Công thương cũng thẳng thắn nhìn nhận mức tăng giá năng lượng nói chung và nhiên liệu nói riêng là yếu tố khách quan. Một số công cụ hỗ trợ về tài chính, về quỹ bình ổn có thể giảm nhiệt trong ngắn hạn đối với áp lực này, nhưng về lâu dài; doanh nghiệp vẫn phải tập trung cao độ vào chất lượng sản phẩm; bám sát các quy chuẩn chất lượng tại thị trường xuất khẩu để giữ vị thế cạnh tranh.
 
Qua khảo sát nhanh, Bộ khoa học và đầu tư cho biết có sự gia tăng về doanh thu nhưng điểm đáng quan ngại là mức độ tăng về các chi phí của doanh nghiệp đặc biệt là chi phí logistics trong quý II/2022 so với quý liền trước và cùng kỳ năm ngoái đang ở mức cao hơn so với mức độ tăng về doanh thu trong quý II/2022. Đây cũng là thách thức doanh nghiệp vẫn tiếp tục quan ngại trong quý III/2022, khi chỉ số chi phí của doanh nghiệp vẫn neo ở mức cao.
 
 
Giảm phụ thuộc nguyên liệu đế nhựa - cao su Việt tăng cạnh tranh 
 
Kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa, cao su Việt Nam đạt trên chục tỷ USD mỗi năm, nhưng do phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên sản phẩm rơi vào cảnh tụt hậu. Trong bối cảnh Việt Nam đang có nhiều lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do, ngành này nhất thiết cần phải có sự thay đổi trong tư duy lẫn công nghệ sản xuất, để từ đó có thể nâng cao khả năng cạnh trạnh, nâng giá trị sản phẩm.
 
8 tháng đầu năm 2022 tổng giá trị xuất khẩu của ngành nhựa cao su đạt trên 4 tỷ USD, tăng đến 70% so với cùng kỳ năm 2021.
 
Trong đó, Mỹ nhập khẩu sản phẩm nhựa từ Việt Nam trị giá gần 1,85 tỷ USD, tăng 68,6%, chiếm 37,47% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa. Đứng thứ hai là Nhật Bản đạt 696,9 triệu USD. Khu vực ASEAN đạt 575,8 triệu USD, thị trường EU đạt 557,7 triệu USD. Nếu nhìn vào con số tăng trưởng này có thể gây lầm tưởng về việc ngành này đang có những bước phát triển nhảy vọt.
 
Nhu cầu sử dụng sản phẩm nhựa, cao su trong nước tăng cao nhưng tỷ lập hấp thụ sản phẩm nội địa vẫn thấp thì có thể nói sự phát triển của ngành nhựa, cao su chưa được như kỳ vọng.
 
Hạn chế lớn nhất khiến ngành nhựa, cao su chưa thực sự bứt tốc trong thời gian qua là chưa tự chủ được nguồn nguyên thiệu.
 
Theo Bộ Công Thương, 75 - 80% nguyên liệu và phụ liệu đầu vào phải nhập khẩu do nguồn cung trong nước hạn chế. Với riêng doanh nghiệp nhựa, nguồn cung nguyên liệu nhựa tái sinh và công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển.
 
Doanh nghiệp không tự chủ được nguyên liệu đầu vào; chi phí cho nguyên liệu chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí của ngành. Tình trạng này dẫn đến việc các doanh nghiệp nhựa phải duy trì tồn kho nguyên liệu lớn để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh không bị gián đoạn.
 
Để ngành này thực sự phát triển bền vững, các bộ ngành liên quan cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực. Cụ thể cần phân vai, quy hoạch vùng nguyên liệu, kiểm soát các cam kết sau khi thu hút các FDI, gắn hỗ trợ FDI với các cam kết về chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa. Bố trí quỹ đất cho ngành nhựa - cao su kỹ thuật, xây dựng các “chung cư nhà xưởng”. Miễn, giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất Công nghiệp hỗ trợ như hạt nhựa, phụ gia… Bên cạnh đó, phát huy vai trò hiệp hội, hội ngành nghề trong liên kết doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng sản phẩm của nhau.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thăm dò khán giả